Home Biển đảo quê hương Biển đảo Ưu tiên lĩnh vực môi trường, biển và hải đảo trong xây...

Ưu tiên lĩnh vực môi trường, biển và hải đảo trong xây dựng hệ cơ sở dữ liệu Quốc gia về quan trắc tài nguyên và môi trường

656
0
SHARE

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1618/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về quan trắc tài nguyên và môi trường. Mục tiêu tổng quát của Đề án là thiết lập Hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về quan trắc tài nguyên và môi trường, một thành phần trong Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường, trên cơ sở Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Ứng dụng giải pháp công nghệ hiện đại nhằm thu nhận, quản lý thống nhất, đáp ứng yêu cầu công bố, cung cấp, khai thác, chia sẻ kịp thời thông tin quan trắc tài nguyên và môi trường phục vụ mục tiêu hoạch định chính sách, phát triển kinh tế – xã hội, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh – quốc phòng.

Đề án được thực hiện trên phạm vi toàn bộ các số liệu quan trắc về tài nguyên và môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động quan trắc về tài nguyên và môi trường. Đề án được thực hiện trong 6 năm từ năm 2017 đến năm 2022 và chia thành giai đoạn 1 (2017- 2020), giai đoạn 2 (2020 – 2022).

Theo đó, giai đoạn 1 (2017 – 2020), quan trắc lĩnh vực môi trường và lĩnh vực biển và hải đảo được ưu tiên thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy định, hướng dẫn về quan trắc lĩnh vực môi trường, quan trắc lĩnh vực biển và hải đảo: xây dựng và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc; chế độ báo cáo, tích hợp thông tin, số liệu, dữ liệu quan trắc; khai thác, phổ biến thông tin, chia sẻ, trao đổi và xử lý, phân tích thông tin, số liệu, dữ liệu quan trắc.

Thứ hai, xây dựng và ban hành các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường quốc gia, quan trắc lĩnh vực biển và hải đảo.

Thứ ba, kiểm soát đo lường và kết nối số liệu quan trắc từ các trạm quan trắc tự động, liên tục.

Thứ tư, xây dựng công cụ kết nối trực tiếp, tích hợp dữ liệu từ các thiết bị quan trắc vào hệ thống cơ sở dữ liệu: nghiên cứu chuẩn kết nối, đặc điểm dữ liệu, phương thức tích hợp thông tin của các thiết bị quan trắc.

Thứ năm, xây dựng công cụ kết nối trực tiếp, tích hợp dữ liệu từ các thiết bị phòng thí nghiệm vào hệ thống cơ sở dữ liệu: nghiên cứu chuẩn kết nối, đặc điểm dữ liệu, phương thức tích hợp thông tin của các thiết bị phân tích phòng thí nghiệm; xây dựng các công cụ, mô hình dự báo chất lượng môi trường.

Thứ sáu, xây dựng các công cụ, mô hình xử lý, tính toán, dự báo trên cơ sở thông tin, số liệu quan trắc về tài nguyên và môi trường biển và hải đảo.

(theo vasi.gov.vn)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.