Home Văn hóa Làng cũ

Làng cũ

270
0

 “Con thắp hương khấn bao mồ cao thấp

Xin mọi người tỉnh dậy để thương nhau”

(Vũ Duy Thông)

Cố hương luôn ấm nồng trong trái tim tôi

Lần đầu tiên, tôi cảm nhận được sự ấm áp của cố hương là khi chuyển nhà thời thơ ấu. Ngày đó, làng xóm còn đơn sơ, người lớn thỉnh thoảng đi vài phiên chợ huyện; trẻ con cũng chỉ quanh quẩn trong làng nên mọi thứ đều có vẻ rộng lớn, mênh mông.

Ngày đi, ba má cùng mấy anh chị gánh đôi quang cùng vài món đồ lỉnh kỉnh đi trước, tôi ôm con chó nhỏ theo sau. Đến giữa làng, bất giác nhìn lại hướng nhà cũ, thấy mảnh vườn đìu hiu, mái nhà tranh mốc xám cũng đìu hiu và òa khóc. Cái cảm giác thân thuộc, cũ kỹ cứ mờ dần rồi bay lên như mây khói. Con chó cũng nhoi xuống đất, kêu ư ử, hết vòng về nhà cũ lại hộc tốc chạy theo…

Làng cũ nằm sát phía nam chân núi Tà Lãnh. Về sau, do làng bị dịch bệnh liên miên, kẻ tha phương cầu thực tứ tán nên nhiều gia đình chuyển đi nơi khác. Nhà cũ đến nay chỉ còn những dấu vết của cái giếng đá, vài ba bậc đá ghè chuồng bò cũ kỹ và hàng dừa cỗi cao chót vót. Làng sát chân núi, trông ra cánh đồng Găng trũng lún, xanh um lúa. Người lớn quanh năm miệt mài mùa vụ, chỉ có trẻ con ngoài lúc phụ giúp cha mẹ thì được tung tăng chạy nhảy, mỗi mùa mỗi vụ lại gắn liền với những điều lý thú và cuốn hút riêng.

Đó là khi tháng Giêng đến, có tiếng chim sắn gọi bạn lẻ loi trong chiều thì người làng lấy đó như dấu hiệu bắt đầu mùa trần lưng trên những triền đồi, ngủ ăn cùng sắn. Trẻ con lại lấy đó làm mốc cho một mùa rong ruổi theo đàn bò, sục sạo trong từng bụi thồ lồ, nút áo chín mọng. Tháng Giêng là tháng mà bữa cơm nào của người quê cũng sấp ngửa trên những vạt sắn nhổ dở, bên dây bìm bìm dập nát thơm ngai ngái trộn lẫn trong mùi nhựa của mẻ sắn phơi.

Đó là khi tháng ba về, cánh đồng làng vào mùa nghỉ vụ. Ngày xưa, ruộng còn dùng sức cày bò, luống lật bỏ ải, là nơi trú ngụ của vô số dế và chuột đồng. Nắng tháng ba vàng như mật, để những cây cải tần ô hoa vàng cũng ngỡ ngàng e ngại. Buổi chiều nắng tắt, dưới cánh đồng, trẻ chăn bò đốt rơm cũ với củi khô, khói lên lam bờ lau trắng. Đàn bò thong thả gặm cỏ chỉ, cỏ lươn, thong thả gặm luôn cả buổi chiều xuống chậm.

Chỉ có tháng năm, người làng có phần thong dong, để hoa mướp hoa cà đua nhau vàng tím. Rồi tháng 11 về, lũ trẻ làng buồn như sắp khóc. Cánh đồng chuẩn bị vào vụ đông, người ta đã đắp nước be bờ, cò trắng tập trung nhiều vô kể và co ro lạnh. Tháng 11, mưa như đã hẹn. Có những ngày triền miên mưa trắng, nước tràn đồng, trông xa bờ lau chỉ còn lắt lay vài ngọn cờ bé nhỏ. Đêm, cua nhái bò vào nhà, sáng ra có con cá rô ngơ ngác lạc trên những luống rau dền đỏ mê man nước…

Tuổi thơ tôi trôi qua nhọc nhằn khoai sắn nhưng cũng đầy ắp kỷ niệm nơi làng cũ. Thi thoảng, tôi hay ngồi nhớ lại, đếm từng nóc nhà nơi làng cũ, từ đoạn đầu làng có cây dừa cụt ngọn cho đến ngôi nhà cuối cùng. Tôi nhớ rõ từng mảnh vườn nhà trong làng, từng gương mặt lớn nhỏ khác nhau và từng kiểu nói, dáng cười của mỗi người. Và dường như, tính cách mỗi người đều lộ rõ qua cử chỉ, dáng điệu và cả cái tên chân chất.

Thời gian vật đổi sao dời. Những mùa chim thiên di mất hút, người cũng lưu lạc không về. Thi thoảng hỏi thăm người làng, mới hay nhiều người già, cả đôi ba người chưa già hoặc còn rất trẻ đã về nơi khác. Thoáng buồn vì mình không về đưa họ một đoạn cuối đường. Vẫn biết rằng ngàn đời đất quê bao dung, nên dù còn sống hay về với đất, họ cũng được bình yên thanh thản. Mỗi khi sắp đến mùa tảo mộ, tôi lại chạnh lòng, nhớ làng cũ hơn bao giờ.

NGUYÊN HẬU

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.