Home Nghiên cứu - trao đổi Kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng bộ thành phố Hà Nội...

Kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng bộ thành phố Hà Nội (17/3/1930- 17/3/2020): Đảng bộ thành phố Hà Nội – Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng toàn diện

9058
0

Thành ủy Hà Nội được thành lập ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 17/3/1930 tại số nhà 42 phố Hàng Thiếc, dưới sự lãnh đạo của Lâm thời Chấp ủy Bắc Kỳ, Thành ủy lâm thời Hà Nội được thành lập gồm Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam do Đỗ Ngọc Du làm Bí thư. Cuối tháng 4-1930, Đỗ Ngọc Du, Bí thư Thành ủy lâm thời được Trung ương điều đi công tác ở nước ngoài. Tháng 6-1930, Trần Văn Lan, Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp ở số 177 phố Hàng Bông để tổ chức lại Thành ủy. Thành ủy Hà Nội được chính thức thành lập do Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư cùng hai ủy viên là Lê Đình Tuyển và Đỗ Danh Cưu. Văn phòng Thành ủy do Tạ Quang Sần phụ trách.

Ngày 17/3/1930 tại số nhà 42 phố Hàng Thiếc, dưới sự lãnh đạo của Lâm thời Chấp ủy Bắc Kỳ, Thành ủy lâm thời Hà Nội được thành lập gồm Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam do Đỗ Ngọc Du làm Bí thư. Cuối tháng 4-1930, Đỗ Ngọc Du, Bí thư Thành ủy lâm thời được Trung ương điều đi công tác ở nước ngoài. Tháng 6-1930, Trần Văn Lan, Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp ở số 177 phố Hàng Bông để tổ chức lại Thành ủy. Thành ủy Hà Nội được chính thức thành lập do Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư cùng hai ủy viên là Lê Đình Tuyển và Đỗ Danh Cưu. Văn phòng Thành ủy do Tạ Quang Sần phụ trách.

Thực hiện chủ trương của Xứ ủy Bắc kỳ, Thành ủy đã tổ chức Đội tuyên truyền xung phong gồm các đồng chí Lê Đình Tuyển, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên, Dương Văn Ty), Giang Đức Cường. Đội đã cùng với một số đảng viên là người của Hà Đông – Sơn Tây thuộc tổ chức Đảng Hà Nội như các đồng chí: Bùi Doãn Chân, Lều Thọ Nam, Hoàng Văn Năng… tích cực tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng của Đảng trong các tầng lớp nhân dân, tập hợp quần chúng vào các đoàn thể, ủng hộ phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, mở rộng và phát triển cơ sở cách mạng không chỉ ở địa bàn Hà Nội mà còn ở cả một số vùng của Hà Đông và Sơn Tây. Có thể nói, đây chính là tổ chức tiền thân của Ban Tuyên huấn Thành ủy sau này.

Đảng bộ Hà Nội, chỉ trong 6 tháng cuối năm 1930, ba lần đồng chí Trần Văn Lan (tức Giáp) Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp phụ trách phong trào Hà Nội phải lập lại Thành uỷ. Nhiều đồng chí lãnh đạo Thành uỷ, nhiều đảng viên và quần chúng trung kiên bị bắt (Lê Đình Tuyển, Đặng Xuân Khu, Trần Quý Kiên (Đinh Xuân Nhạ), Giang Đức Cường, Hoàng Ngọc Bảo… Ngày 6/12/1930, Nguyễn Ngọc Vũ cũng bị địch bắt.

Trong giai đoạn từ 1931-1932 Thành ủy bị thực dân Pháp khủng bố, truy lùng ráo riết. Các thành viên bị bắt hoặc phải rút về hoạt động bí mật tại nhiều nơi. Tháng 8/1936 ba ông Nguyễn Văn Cừ, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên, Dương văn Ty ) và Nguyễn Văn Minh đã họp tại một địa điểm thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, thành lập ra cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ Ủy Bắc Kỳ và Thành Ủy Hà Nội lấy tên là Ủy ban Sáng kiến.

Tháng 3/1937, tại Hà Nội, Xứ Uỷ Bắc Kỳ chính thức lập lại gồm các thành viên: Hoàng Tú Hưu, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Minh, Lương Khánh Thiện, Trần Quý Kiên (Nhạ,Ty) ,Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Tô Hiệu, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt)….Tháng 3/1937, Thành uỷ Hà Nội cũng tái lập do đồng chí Lương Khánh Thiện, Thường vụ Xứ Ủy Bắc kỳ trực tiếp làm Bí thư. Thành ủy có các ủy viên: Trần Quý Kiên (Ty, Nhạ) thường vụ thành ủy, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Mạnh Đạt, Tạ Quang Sần, Nguyễn Trọng Cảnh (Trần Quốc Hoàn)… Hoạt động của Đảng bộ gồm cả Sơn Tây và Hà Đông.

Năm 1938, cơ quan lãnh đạo của Thành Ủy Hà Nội được kiện toàn đồng chí Trần Quý Kiên (Đinh xuân Nhạ, Dương văn Ty) lúc này là Thường vụ Xứ Ủy Bắc Kỳ được cử thay Lương Khánh Thiện trực tiếp làm Bí thư Thành Ủy Hà Nội lúc này bao gồm cả hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông.Đảng cũng bổ sung thêm hai đảng viên là các đồng chí đang hoạt động từ phong trào công nhân là đồng chí Nguyễn Văn Trân và đồng chí Văn Tiến Dũng vào Thành ủy.(đồng chí Lương Khánh Thiện được cử làm Bí thư Xứ Ủy Bắc Kỳ).

Đầu năm 1938, đồng chí Trần Quý Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã trực tiếp về Đa Phúc công nhận Chi bộ dự bị Đa Phúc thành chi bộ chính thức của Đảng. (chi bộ này do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí Thư).

Tháng 9/1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cử hai đồng chí Trần Quý Kiên (Ty, Nhạ) Thường Vụ Xứ Ủy, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội cùng Lương Khánh Thiện (Bí Thư Xứ Ủy Bắc Kỳ ) chuyển sang phụ trách công tác xây dựng căn cứ bí mật của đảng tại chiến khu D (Phù Ninh,Phú Thọ). Đồng chí Nguyễn Mạnh Đạt (tức Lộc, Ái) làm Bí thư Thành Ủy Hà Nội thay Đinh Xuân Nhạ (tức Trần Quý Kiên, tức Dương văn Ty), Nguyễn Trọng Cảnh (tức Trần Quốc Hoàn) làm Phó Bí thư.

Tháng 3/1940 đồng chí Nguyễn Mạnh Đạt bị bắt, Thành Ủy liên tiếp bị phá. Bí Thư Thành Ủy thay đổi lần lượt: đồng chí Nguyễn Văn Ngọc bị địch bắt, đồng chí Nguyễn Văn Bi (Bi, Quốc Vàng) bị địch bắt. Đồng chí Dương Nhật Đại (tức Tư Đại, Thạch Can) bị lộ chuyển công tác. Tháng 1/1941 đồng chí Lưu Đức Hiểu (tức Lưu Quyên) bị địch bắt. Xứ Ủy thành lập liên tỉnh A gồm Hà Nội-Hà Đông-Sơn Tây do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư.

Tháng 5.1941 một ban cán sự Đảng (chức năng như Thành Ủy) gồm 3 người do đồng chí Vũ Biểu làm bí thư hoạt động chưa được bao lâu thì vỡ, đồng chí Vũ Biểu bị bắt. Ban Cán Sự bị vỡ.

Tháng 8.1941 một ban cán sự Đảng mới do đồng chí Đào Duy Dếnh (tức Đào Phan) làm Bí Thư, đến tháng 4.1942 đồng chí bị bắt, ban Cán sự vỡ.

Tháng 6/1942, Ban Thành uỷ lâm thời được thành lập do Phan Bá Quát (tức Địa) làm Bí thư. Tháng 11.1942 Phan Bá Quát bị bắt, Xứ Ủy điều động đồng chí Bạch Thành Phong Bí Thư tỉnh ủy Hà Đông ra Hà Nội bắt liên lạc lập lại Thành Ủy nhưng do bị theo dõi gắt gao và bắt hụt nên phải chuyển công tác. Đầu năm 1943, Xứ uỷ cử đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông ra Hà Nội lập Thành uỷ mới và trực tiếp làm Bí thư. Tháng 4/1943, Bí thư Nguyễn Thọ Chân bị địch bắt. Tháng 4/1943, Xứ uỷ điều đồng chí Lê Quang Đạo về Hà Nội lập Ban Cán sự Đảng Hà Nội gồm 3 người do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư.

Tháng 2/1945 Ban Cán sự đổi thành Ban Thành ủy do Nguyễn Khang phụ trách Bí thư. Tháng 3/1945 Ban Thành ủy được kiện toàn chuẩn bị cách mạng tháng 8, Nguyễn Quyết được cử làm Bí thư. Ngày 25/8/1945, Thành uỷ Hà Nội được bổ sung thêm nhiều ủy viên mới, chỉ định đồng chí Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy) làm Bí thư Thành uỷ, đồng chí Nguyễn Quyết chuyển sang phụ trách quân sự.

Trong giai đoạn toàn quốc kháng chiến, cả nước được chia làm 12 chiến khu, Hà Nội là chiến khu XI nên Thành ủy trong thời gian này còn được gọi Khu ủy Khu XI. Từ khi ra đời và qua 15 kỳ đại hội của Đảng bộ Hà Nội, cùng với các kỳ đại hội của Đảng bộ các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hà Sơn Bình và Hà Tây (cũ) là những mốc lịch sử quan trọng ghi dấu bước trưởng thành to lớn về công tác xây dựng Đảng, phong trào cách mạng của Đảng.

Sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời một thời gian ngắn, ngày 17-3-1930, Đảng bộ Hà Nội được thành lập. Từ đặc thù của mình, Hà Nội luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng nên trong suốt gần 3 thập kỷ sau khi được thành lập, Đảng bộ thành phố thực hiện đường lối cách mạng của Đảng thông qua các hội nghị toàn Đảng bộ nên không tổ chức đại hội. Ban Chấp hành Đảng bộ, Bí thư Thành ủy đều do cấp trên chỉ định. Giai đoạn này cũng là một chặng đường hào hùng, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã làm nên nhiều chiến công vĩ đại: Tổng khởi nghĩa thắng lợi làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tiếp đến là cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến giải phóng Thủ đô tháng 10-1954. Sau đó, Đảng bộ tiếp tục lãnh đạo nhân dân hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, xây dựng chủ nghĩa xã hội giai đoạn 1954-1958.

Từ ngày 21 đến 30-4-1959, Đảng bộ TP Hà Nội đã tổ chức hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ tại Nhà hát lớn, theo chỉ thị của Trung ương, hội nghị có quyền hạn như một đại hội và được xác định là đại hội lần thứ nhất. 236 đại biểu chính thức thay mặt cho 12 nghìn đảng viên của toàn Đảng bộ về dự hội nghị. Thời điểm này, thành phố đã hoàn thành công cuộc cải cách ruộng đất ở ngoại thành, tiến hành khôi phục kinh tế, văn hóa, xây dựng Thủ đô về mọi mặt, góp phần củng cố miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Đại hội đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu.

Thay mặt Trung ương Đảng và nhân danh một đảng viên ở Hà Nội, Bác nói: “… Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải có đạo đức cách mạng, phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể. Đảng viên, đoàn viên bất cứ ở đâu, bất cứ làm công việc gì, phải thật gương mẫu. Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các đảng bộ khác. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu sẽ góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh đấu tranh giành thống nhất nước nhà”.

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ II tổ chức từ ngày 25-1-1961 đến 2-2-1961 với sự tham dự của 310 đại biểu thay mặt cho trên 2 vạn đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đến dự và phát biểu, Người tiếp tục căn dặn: “Đảng bộ Thủ đô và đồng bào, trước hết là công nhân Thủ đô phải gương mẫu, làm đầu tàu để đưa toàn miền Bắc giành lấy thắng lợi”. Thực hiện lời dạy của Bác, qua các kỳ đại hội thứ III (năm 1963), thứ IV (năm 1968), thứ V (năm 1971) và thứ VI (1974), Đảng bộ thành phố đã tập trung lãnh đạo nhân dân Thủ đô đẩy mạnh phát triển sản xuất, chống chiến tranh phá hoại của địch, làm đầy đủ nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến và làm tốt công tác hậu phương quân đội. Đặc biệt, quân và dân Thủ đô đã đập tan chiến dịch tập kích chiến lược đường không của địch cuối tháng 12-1972, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi. Đại hội lần thứ VI, số đảng viên của Đảng bộ thành phố tăng lên 64 nghìn đảng viên.

Cùng với Hà Nội, hai tỉnh liền kề Thủ đô là Hà Đông, Sơn Tây cũng sớm tiếp nhận tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với tinh thần yêu nước. Tháng 5-1930, Chi bộ Đảng Thanh Trì được thành lập, hoạt động theo sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Hà Nội. Đây là chi bộ đầu tiên của Đảng bộ Hà Đông trước đây, cũng là chi bộ ở nông thôn sớm nhất trong Đảng bộ Hà Nội ngày nay. Năm 1938, đồng chí Trần Quí Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã trực tiếp về Đa Phúc (Quốc Oai) công nhận chi bộ dự bị ở đây là một chi bộ chính thức của Đảng, chi bộ đầu tiên của Đảng bộ Sơn Tây. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Xứ ủy, phong trào cách mạng ở Hà Đông, Sơn Tây phát triển mạnh mẽ, tạo thành an toàn khu, là cơ sở để Đảng lãnh đạo khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ tỉnh Hà Đông và Sơn Tây đã tiến hành tổ chức đại hội lần thứ I và các hội nghị, đại hội tiếp theo để triển khai đường lối kháng chiến của Trung ương và đề ra phương hướng lãnh đạo của từng đảng bộ.

Hòa bình lập lại tại miền Bắc, Đảng bộ tỉnh Hà Đông và Đảng bộ tỉnh Sơn Tây đã tiến hành hội nghị đảng bộ (năm 1959), các đại hội lần thứ III (năm 1961), lần thứ IV (năm 1963) đề ra phương hướng lãnh đạo nhân dân hai tỉnh cải tạo và phát triển kinh tế – xã hội; tập trung phát triển nông nghiệp làm trọng tâm, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp là quan trọng; đẩy mạnh hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học; củng cố quốc phòng; đẩy mạnh các hoạt động ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam… Ngày 10-4-1965, Bộ Chính trị ra quyết định hợp nhất hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây. Từ ngày 11 đến 20-3-1969 diễn ra Đại hội đại biểu tỉnh Hà Tây lần đầu, chính là sự tiếp nối của 4 kỳ đại hội của hai đảng bộ nên được xác định là kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V. Năm 1974, Đảng bộ tỉnh tiến hành đại hội lần thứ VI. Đây là thời kỳ địa phương tập trung phát triển kinh tế, động viên chi viện cho tiền tuyến lớn, tổ chức đời sống nhân dân tham gia sản xuất, chiến đấu, xây dựng Đảng…

Đất nước được hoàn toàn giải phóng, TP Hà Nội và tỉnh Hà Tây bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ Hà Nội đã tiến hành Đại hội lần thứ VII (tổ chức hai vòng vào cuối năm 1976 và giữa năm 1977), lần thứ VIII (năm 1980), lần thứ IX (tổ chức hai vòng vào tháng 1-1982 và tháng 6-1983) và điểm mốc khởi đầu bước vào thời kỳ đổi mới là Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ X được tổ chức từ 17 đến 23-10-1986 với 709 đại biểu tham dự.

Với tinh thần tôn trọng sự thật, nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã xây dựng dự thảo các văn kiện chuẩn bị trình Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng với nội dung cốt lõi là: Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X đã đánh giá nghiêm túc những việc đã làm được và chưa làm được, tiến bộ và khuyết điểm, phân tích đúng các nguyên nhân; định ra phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ phấn đấu trong 5 năm tới.

Trong nhiệm kỳ này là giai đoạn vừa xây dựng cơ chế chính sách đổi mới, vừa lựa chọn bước đi phù hợp để tổ chức triển khai, Đảng bộ đã vượt qua nhiều khó khăn, lãnh đạo thành phố giành kết quả khá toàn diện, kinh tế tăng trưởng rõ rệt; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; chính trị xã hội ổn định. Từ tiền đề ban đầu đó, các đại hội lần thứ XI (tổ chức vòng 1 từ ngày 25 đến 29-4-1991, vòng 2 từ ngày 16 đến ngày 19-11-1991), lần thứ XII (tổ chức từ ngày 7 đến ngày 9-5-1996), lần thứ XIII (tổ chức từ ngày 27 đến ngày 30-12-2000), lần thứ XIV (tổ chức từ ngày 20 đến 23-12-2005) đều đánh dấu một bước tiến mới của Thủ đô trong công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị cũng như trên các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và quản lý đô thị, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Tại Đại hội lần thứ XIV, đánh giá kết quả 20 năm đổi mới cho thấy, so với năm 1985, GDP năm 2005 của thành phố tăng khoảng 6,4 lần, thu ngân sách tăng trên 10 lần, kim ngạch xuất khẩu tăng 47,4 lần, mức thu nhập của người dân tăng 4 lần. Quản lý đô thị tiến bộ với khối lượng vận chuyển hành khách công cộng tăng 15 lần, xây dựng nhà ở tăng 10 lần, sản lượng cấp nước sạch tăng 4,3 lần…

Với tỉnh Hà Tây, sau giải phóng, ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết sáp nhập hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 3-1976. Trải qua các kỳ đại hội được tổ chức vào tháng 4-1977, tháng 10-1979, tháng 1-1983 và tháng 10-1986, kỳ họp Quốc hội thứ chín (khóa VIII) năm 1991 đã quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. 6 huyện, thị xã gồm Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ, Thạch Thất, Sơn Tây, Ba Vì được chuyển giao từ tỉnh Hà Sơn Bình về Hà Nội từ tháng 4-1979 lại được tách khỏi Hà Nội chuyển về Hà Tây.

Chính thức làm việc từ ngày 1-10-1991, đến tháng 3-1992, Đảng bộ tỉnh Hà Tây tổ chức Đại hội đại biểu nhiệm kỳ 1992-1995. Từ đại hội năm 1992 đến Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ XIV (từ ngày 14 đến 16-12-2005), Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân đạt được bước phát triển theo hướng CNH, HĐH. Từ địa bàn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mới chiếm 20% giá trị sản xuất; đến năm 2005, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm còn 31,39%, công nghiệp xây dựng tăng lên chiếm 38,4%; dịch vụ du lịch cũng tăng lên 30,21%…

Đại hội Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV diễn ra từ ngày 25 đến 28-10-2010 là đại hội nhiệm kỳ đầu tiên sau điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính Thủ đô thực hiện theo Nghị quyết 15 của Quốc hội khóa XII được tổ chức trong bối cảnh thành phố vừa tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. 493 đại biểu chính thức đại diện cho gần 33 vạn đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự đại hội. Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIV, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2010-2015.

5 năm qua, Đảng bộ thành phố đã nỗ lực phấn đấu, vận dụng sáng tạo, tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương và của Thành ủy, trọng tâm là nghiên cứu, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XV, lãnh đạo thực hiện tốt 9 chương trình công tác, 5 nhiệm vụ chủ yếu và 2 khâu đột phá của Thành ủy, tạo ra bước chuyển biến mới, toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng bộ.

Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVI chính thức khai mạc vào hôm 1-11, sẽ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2010-2015; từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu chủ yếu và những vấn đề trọng tâm phát triển Thủ đô 5 năm 2015-2020. Đường lối đúng đắn được đại hội thống nhất sẽ là tiền đề để Thủ đô vững bước đi lên gặt hái được nhiều thành tựu trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…

Thạc sĩ Nguyễn Danh Phú, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, TP.Hà Nội

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.