Home Nghiên cứu - trao đổi Động lực từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến...

Động lực từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến lĩnh vực an ninh – quốc phòng của nước ta hiện nay

316
0

Sự phát triển của lịch sử xã hội loài người tất yếu đưa đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), được dự báo sẽ làm thay đổi cơ bản lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp của con người. Với nước ta, trong những lĩnh vực chịu sự tác động, lĩnh vực an ninh – quốc phòng (AN-QP) được xem là chịu sự tác động nhanh và mạnh. Bên cạnh những thách thức, cuộc cách mạng công nghiệp lần này thực sự là cơ hội, động lực to lớn thúc đẩy lĩnh vực AN-QP nước ta phát triển.

Bản chất, đặc trưng và những tác động từ cuộc CMCN 4.0

Năm 2011, tại Hội chợ Công nghệ Hannover ở Đức, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” lần đầu tiên được đưa ra. Đến năm 2012, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng cho giới nghiên cứu và các hiệp hội công nghiệp hàng đầu của Đức. Đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới.

Trong lịch sử, nhân loại đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạnh công nghiệp lần thứ nhất diễn ra đầu thế kỷ 18 bởi các thành tựu về cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực và hơi nước. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 được đặc trưng bởi động cơ điện và sản xuất hàng loạt. Cách mạng công nghiệp lần thứ ba, nổi lên tại các quốc gia phát triển nhất thế giới, bước ngoặt lịch sử này được phát hiện vào những năm 60 của thế kỷ 20 khi mà số người làm việc văn phòng và làm dịch vụ vượt hơn số lượng công nhân. Và, ngay cả lúc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đang còn lan tỏa thì CMCN 4.0 đã nổi lên trong những năm gần đây ở các nước công nghiệp hàng đầu thế giới. Về bản chất, CMCN 4.0 là sự chuyển biến về chất, đưa đến một loạt các công nghệ có tính tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, internet của vạn vật và internet của các dịch vụ tương tác với nhau và với con người theo thời gian thật.

Đặc trưng phổ biến của CMCN 4.0 được khái quát trên những nét chính: (1) Xu hướng kết hợp công nghệ cảm biến mới, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet vạn vật đang thúc đẩy phát triển máy móc tự động hóa và hệ thống sản xuất thông minh. (2) Công nghệ in 3D cho phép sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất không phải qua giai đoạn lắp ráp các thiết bị phụ trợ. (3) Công nghệ nano và vật liệu mới cho phép tạo ra các cấu trúc vật liệu mới ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực. (4) Trí tuệ nhân tạo và điều khiển học có bước phát triển vượt bậc cho phép con người kiểm soát từ xa mọi thứ, không giới hạn về không gian, thời gian; tương tác nhanh hơn, tốt hơn và chính xác hơn.

Lợi ích và thách thức của cuộc CMCN 4.0 đối với thế giới đương đại: Về kinh tế – xã hội, cuộc cách mạng này sẽ tạo ra các lợi ích hết sức to lớn. Người tiêu dùng dường như được hưởng lợi nhiều nhất với các sản phẩm và dịch vụ mới được thực hiện từ xa của hàng ngàn các ứng dụng thông minh từ internet, điện thoại đang làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng và năng suất hơn nhưng chi phí không đáng kể. Nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức. Các ngành công nghiệp sáng tạo tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế so với các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống.

Về môi trường, nhờ các ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và các công nghệ giám sát môi trường cũng đang phát triển nhanh được hỗ trợ bởi internet kết nối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục cũng như các cảnh báo sớm từ các thảm họa thiên nhiên.

Về tác động xã hội, cuộc CMCN 4.0 còn có thể tạo ra sự bất công lớn hơn về phân phối thu nhập, làm gia tăng mâu thuẫn giữa các nhóm lao động: nhóm có kỹ năng thấp/trả lương thấp và nhóm có kỹ năng cao/trả lương cao. Những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ sự sáng tạo sẽ là những nhà cung cấp vốn tri thức và vốn tài chính, cụ thể là những nhà sáng chế, cổ đông và nhà đầu tư. Điều này làm cho khoảng cách về sự giàu – nghèo giữa những đối tượng phụ thuộc vào vốn và phụ thuộc vào sức lao động ngày càng tăng…

Riêng những tác động từ cuộc CMCN 4.0 đến lĩnh vực AN-QP sẽ làm cho các cuộc xung đột hiện nay giữa các quốc gia đang ngày càng “lai tạp” về bản chất, kết hợp các kỹ năng chiến đấu truyền thống với các yếu tố có liên quan trước đó với các đối tượng phi nhà nước. Ranh giới giữa chiến tranh và hòa bình, giữa chiến binh và dân thường, thậm chí là giữa bạo lực và phi bạo lực (chẳng hạn như chiến tranh mạng) đang trở nên ngày càng mong manh. Khi quá trình này diễn ra, các công nghệ mới như vũ khí tự động và vũ khí sinh học trở nên dễ dàng sử dụng hơn, từng cá nhân và các nhóm nhỏ sẽ sở hữu khả năng gây ra những tổn thương hàng loạt không thua kém các quốc gia. Nguy cơ đó sẽ dẫn tới những nỗi sợ hãi mới. Tuy vậy, những tiến bộ về công nghệ cũng đồng thời tạo ra tiềm năng giúp làm giảm quy mô và tác động của bạo lực bằng cách phát triển các phương thức bảo vệ mới, chẳng hạn như độ chính xác cao hơn trong ngắm bắn mục tiêu.

Cuộc CMCN 4.0 cũng đặt ra các thách thức an ninh phi truyền thống, như an ninh không gian: Hầu hết các ứng dụng quan trọng và nổi bật của CMCN 4.0 đã được sử dụng trong các cuộc chạy đua vũ trụ và không gian. Trái đất nơi con người sinh sống đang bị giám sát bởi vô số các thiết bị công nghệ kỹ thuật số chính xác đến từng centimet trên mặt đất, dưới mặt đất và trên không trung. Không gian n chiều đã và đang được số hóa và con người cũng như mỗi quốc gia trở thành đối tượng của các thiết bị công nghệ theo dõi từ xa. Sự va chạm giữa các thiết bị vũ trụ và không gian không còn là vấn đề viễn tưởng mà là mối nguy hiển hiện.

Về an ninh mạng: Sự xâm nhập các cơ sở dữ liệu để đánh cắp, làm thay đổi hoặc phá hoại các thông tin quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực là mối nguy thường trực của tất cả các tổ chức ở mọi cấp độ. Vấn đề bảo mật, đảm bảo an ninh mạng mang tính toàn cầu là thách thức lớn hiện nay.

Về an ninh kinh tế – xã hội: Cuộc CMCN 4.0 cho phép ứng dụng phổ biến công nghệ kỹ thuật số với hệ thống dữ liệu kết nối ở hầu hết các giao dịch kinh tế, tài chính, thương mại nhưng lại chứa đựng các nguy cơ tiềm ẩn về an toàn, an ninh thông tin. Thực tế hàng ngày trong hàng triệu các giao dịch kinh tế, thương mại và đầu tư thông qua hệ thống số đã xảy ra vô số các cuộc tấn công đánh cắp thông tin ở mức độ này hay mức độ khác.

Vai trò, động lực từ cuộc CMCN 4.0 đến lĩnh vực an ninh – quốc phòng

Là một lĩnh vực đặc thù, AN-QP chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó có lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Xưa, một phát minh khoa học để được ứng dụng vào hoạt động quân sự, AN-QP, nếu nhanh cũng phải 50 – 60 năm sau đó. Nhưng ngày nay, với sự phát triển của trình độ ứng dụng, một phát minh chỉ sau một vài năm, thậm chí là vài tháng, vài tuần đã được ứng dụng vào thực tiễn hoạt động quân sự, AN-QP, qua đó tạo ra sự phát triển vượt bậc trên lĩnh vực này, hơn cả sự phát triển của lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Tư tưởng của Ph.Ăngghen từng khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông”, mà kinh tế lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong điều kiện khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì trình độ kinh tế phát triển đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ khoa học công nghệ. Theo đó, rõ ràng lĩnh vực quân sự, AN-QP phụ thuộc ngày càng lớn vào trình độ khoa học công nghệ, nay trực tiếp là cuộc CMCN 4.0. Xét trong góc độ nhất định, nó được coi là tạo ra động lực to lớn, thúc đẩy lĩnh vực quân sự, AN-QP phát triển vững mạnh, biểu hiện trên những khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, cuộc CMCN 4.0 thúc đẩy quá trình nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nâng cao chất lượng huấn luyện SSCĐ và chiến đấu của lực lượng an ninh, quân sự.

Với chủ trương: “Tăng cường nguồn lực, tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, lĩnh vực AN-QP được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt, với việc tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, đồng thời cải tiến các trang thiết bị, đầu tư, nâng cấp và trang bị cho các lực lượng những phương tiện vũ khí kỹ thuật tiên tiến, hiện đại ngang tầm với nhiệm vụ giai đoạn cách mạng mới. Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong nước và quốc tế.

Nhờ tri thức và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp, nhờ sự vận dụng linh hoạt những thành tựu đó, nhất là công nghệ tự động hóa, công nghệ sản xuất vũ khí hiện đại, có tính lưỡng dụng cao, đã “tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”… Vậy nên, Đảng ta chủ trương “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp AN-QP… tăng cường nguồn lực, tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động khó lường, tình hình Biển Đông tiếp tục là điểm nóng với những diễn tiến phức tạp, hiển hiện nhiều nguy cơ gia tăng căng thẳng, xung đột vũ trang. Trong nước kẻ thù không ngừng tăng cường sử dụng các chiêu bài nham hiểm và thâm độc nhằm gây mất trật tự, an ninh chính trị, đẩy mạnh gây rối, biểu tình bất hợp pháp, bạo loạn lật đổ. Cùng với đó là sự gia tăng các loại hình tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có sử dụng kỹ thuật, công nghệ cao…. Để ứng phó và ngăn chặn có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn và những hành động bất lợi nêu trên, một trong nhiều giải pháp quan trọng là cần thiết phải đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa lực lượng AN-QP, trong đó đặc biệt ưu tiên hiện đại hóa một số lực lượng như Thông tin, Trinh sát, Hải quân, Không quân… Đây là một đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn, nhưng đứng trước rất nhiều khó khăn. Và, thành tựu từ cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra cơ hội, động lực lớn cho hiện thực hóa mục tiêu này.

Thứ hai, cuộc CMCN 4.0 thúc đẩy nâng cao chất lượng nhân tố con người trong lực lượng vũ trang, sẵn sàng ứng phó và ứng phó thắng lợi với các vấn đề về AN-QP quốc gia.

Cũng như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó, các nước trên thế giới, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa với ưu thế vượt trội về cơ sở hạ tầng, về nền tảng khoa học công nghệ, sẽ chủ động nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ từ cuộc CMCN 4.0, tích cực tạo ra sức mạnh răn đe lớn… Cùng với đó, các phần tử khủng bố, lực lượng chống phá trong và ngoài nước cũng nhân cơ hội cuộc cách mạng này mà nhanh chóng tiếp cận và sử dụng những thành tựu, phát minh mới, gây ra những thách thức tiềm ẩn mới, lớn cho cách mạng nước ta… buộc nước ta phải đẩy mạnh nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, phát triển, nâng cấp chất lượng các yếu tố tạo thành sức mạnh AN-QP của quốc gia, trước tiên là nhân tố con người. CMCN 4.0 có thể giúp ta hiện thực hóa những yêu cầu này.

Đảng ta nhận định: chiến tranh trong tương lai là chiến tranh công nghệ cao, với nhiều loại vũ khí tối tân, độ chính xác cao, được điều khiển từ xa, có tính tự động hóa, những phương tiện trinh sát thông minh, không người lái, người máy sẽ thay thế người lính đảm nhiệm một số nhiệm vụ đặc biệt, cuộc chiến an ninh mạng diễn biến phức tạp, không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa ta và địch khó phân định… để đánh bại chiến tranh công nghệ cao của các thế lực thù địch phải trên cơ sở phát triển nghệ thuật quân sự truyền thống, cộng với việc tích cực ứng dụng, làm chủ những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại.

Yêu cầu nâng cao chất lượng nhân tố con người từ việc ứng phó với cuộc chiến tranh có sử dụng công nghệ cao, đến lượt nó lại đặt ra cho các nhà trường quân đội, công an những yêu cầu mới về giáo dục và đào tạo, đồng thời cũng là cơ hội hiện hữu cho việc thúc đẩy quá trình nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới. Theo đó, các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học lục quân, khoa học chính trị trong lực lượng vũ trang có cơ sở, nguồn nội lực để phát triển, đồng nghĩa với việc các nhà trường, các trung tâm đào tạo, các viện nghiên cứu phát triển trên cơ sở yêu cầu và ứng dụng các thành tựu có được từ cuộc CMCN 4.0. Chất lượng nhân tố con người trong lực lượng vũ trang được nâng cao, vũ khí trang bị được hiện đại hóa làm cho việc ứng phó với các vấn đề về liên quan đến AN-QP quốc gia trở nên nhanh chóng, linh hoạt, dễ dàng hơn, mục tiêu giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước… được bảo đảm, tạo điều kiện cho kinh tế – xã hội đất nước phát triển bền vững.

Thứ ba, cuộc CMCN 4.0 thúc đẩy các hoạt động đối ngoại AN-QP, là cơ hội mở rộng hợp tác, giao lưu, học hỏi để phát triển lĩnh vực AN-QP ở nước ta.

Hoạt động đối ngoại AN-QP là kết quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thế giới, làm tăng nhanh quá trình toàn cầu hóa, trước tiên là toàn cầu hóa kinh tế, sau đó là các lĩnh vực khác của đời sống xã hội thế giới, trong đó có lĩnh vực quân sự, AN-QP. Đây là xu thế tất yếu, dòng chảy chính hiện nay và không thể đảo lộn. Các quốc gia trên thế giới, dù theo thể chế chính trị nào, trước đó có thể là thù địch thì nay, muốn hay không muốn vẫn cần có sự chủ động cho việc hợp tác, liên kết với các nước, các khu vực, các vùng lãnh thổ, kể cả trên lĩnh vực AN-QP vì những lợi ích quốc gia, dân tộc. Vậy nên, không nằm ngoài quy luật đó, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là: “Kết hợp chặt chẽ giữa AN-QP và đối ngoại; tăng cường hợp tác về AN-QP”. Đây là quan điểm hết sức khoa học, trên cơ nhận thức đúng đắn quy luật vận động của lịch sử và từ chủ trương tăng bạn, bớt thù, tranh thủ thời cơ, đi trước, đón đầu sự phát triển của khoa học, công nghệ, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cuộc CMCN 4.0 với những tác động nhiều chiều, đã làm tăng lên những mối quan hệ quốc tế, giữa nước ta với các nước trong khu vực, trên thế giới trong lĩnh vực AN-QP. Đây là yếu tố được thúc đẩy bởi nhu cầu giao lưu, trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và chuyển giao khoa học, công nghệ AN-QP giữa các nước, các khu vực với nhau, nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược quốc gia và mục tiêu chung của nhân loại như phòng chống tội phạm quốc tế, phòng chống khủng bố, gìn giữ an ninh, hòa bình quốc tế. Một mặt thúc đẩy sự nỗ lực chủ quan của đất nước trong việc tăng cường ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ AN-QP để giữ thể diện quốc gia và đáp ứng mặt bằng về trình độ với các quan hệ. Mặt khác, quá trình mở rộng quan hệ quốc tế trên lĩnh vực AN-QP sẽ tạo ra những mối liên hệ ràng buộc, những lợi ích đan xen, bảo đảm các yếu tố tích cực, tạo ra một môi trường chính trị ổn định, thuận lợi nhất cho sự phát triển của lĩnh vực AN-QP.

Tóm lại, lĩnh vực AN-QP là lĩnh vực xã hội đặc biệt, luôn chịu sự tác động từ nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có những tác động từ cuộc CMCN 4.0. Tuy nhiên có nhiều cách thức tiếp cận và giải quyết những tác động đó khác nhau, đặt ra vấn đề cần thiết nước ta phải xác định được đúng vai trò động lực của cuộc CMCN 4.0 đến lĩnh vực AN-QP. Đây là vấn đề quan trọng, làm cơ sở để các nhà hoạch định chiến lược chủ động có những chủ trương đúng, đi trước, đón đầu những tác động tích cực từ cuộc cách mạng công nghiệp lần này để vận dụng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

Đại úy, ThS. Bùi Văn Mạnh – Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng

(Theo canhsatbien.vn)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.